5 tác dụng đáng ngạc nhiên của việc bổ sung vitamin D sau 50 t.uổi

Vitamin D là một chất bổ sung phổ biến để bổ sung ở mọi lứa t.uổi, nhưng đây là những gì cụ thể mà bạn sẽ trải nghiệm nếu bạn dùng nó khi bạn trên 50 t.uổi.

Một ngày nào đó chúng ta đang cùng nhau tận hưởng t.uổi trẻ của mình. Và rồi một ngày chúng ta thức dậy ở độ t.uổi 50, và chúng ta thấy có tiếng kêu rắc rắc, r.ạn n.ứt và những cảm giác khác mà chúng ta chưa từng trải qua trước đây.

5 tác dụng đáng ngạc nhiên của việc bổ sung vitamin D sau 50 t.uổi - Hình 1

Vitamin D. Ảnh SHUTTERSTOCK

Thật không may, khi t.uổi của chúng ta tăng lên, nguy cơ mắc một số tình trạng sức khỏe như loãng xương, ung thư và tăng huyết áp cũng tăng theo. Nói cách khác, cơ thể 50 t.uổi rất khác so với cơ thể 20 t.uổi.

Và bởi vì điều này, việc bổ sung một số chất bổ sung có thể dẫn đến một số tác dụng đáng ngạc nhiên khi chúng ta đến một độ t.uổi nhất định.

Vitamin D là duy nhất bởi vì, khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, cơ thể con người có thể tạo ra chất dinh dưỡng này. Nhưng vì hầu hết chúng ta không “tắm” ánh nắng mặt trời nhiều như trước đây, nên cơ hội để sản xuất ra loại vitamin quan trọng này bị giảm đi.

Thêm vào đó, khả năng sản xuất vitamin D của da ở người lớn t.uổi được ước tính là khoảng 25% so với ở những người từ 20-30 t.uổi tiếp xúc với cùng một lượng ánh sáng mặt trời.

Nếu bạn trên 50 t.uổi và bạn thuộc đối tượng “ăn uống bổ sung vitamin D”, thì đây là một số tác dụng phụ mà bạn có thể gặp phải, theo Eat This, Not That!

1. Xương chắc khỏe hơn

Khi con người già đi, nguy cơ loãng xương của họ tăng lên.

Ở Mỹ, khoảng 10 triệu người lớn trên 50 t.uổi bị loãng xương và 34 triệu người bị giảm khối lượng xương hoặc loãng xương.

May mắn thay, việc bổ sung vitamin D giúp mật độ khoáng xương cao hơn và giảm nguy cơ phát triển bệnh loãng xương (xương yếu hơn).

Đặc biệt đối với phụ nữ sau mãn kinh, việc chú trọng đến sức khỏe của xương là điều quan trọng nhất, vì nguy cơ gãy xương sẽ tăng lên.

2. Ít bị trầm cảm hơn

Hơn một nửa số trường hợp trầm cảm biểu hiện muộn hơn trong cuộc đời.

Và trầm cảm khởi phát muộn có liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh, tăng nguy cơ t.ự t.ử, giảm chức năng thể chất, nhận thức và xã hội, và bỏ bê bản thân nhiều hơn, tất cả đều liên quan đến tăng tỷ lệ t.ử v.ong.

Một số thụ thể vitamin D đã được xác định trong não ảnh hưởng đến tâm trạng, cho thấy rằng mức vitamin D thấp có thể liên quan đến suy giảm nhận thức và các triệu chứng trầm cảm.

Có mối liên hệ trực tiếp giữa nồng độ vitamin D thấp trong huyết thanh với nguy cơ trầm cảm cuối đời cao hơn.

Uống bổ sung vitamin D có thể giúp hỗ trợ mức vitamin D khỏe mạnh, có thể chống lại nguy cơ trầm cảm.

3. Có nguy cơ ung thư thấp hơn

T.uổi cao là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với một số bệnh ung thư.

Tỷ lệ mắc bệnh ung thư nói chung tăng đều đặn khi t.uổi tác tăng lên, có nghĩa là tìm cách giảm nguy cơ khi t.uổi tác tăng lên là chìa khóa quan trọng.

Kết quả từ một nghiên cứu được công bố trên BMJ cho thấy rằng lượng vitamin D cao có liên quan đến việc giảm 20% nguy cơ mắc một số bệnh ung thư ở cả nam giới và phụ nữ so với những người có lượng vitamin D thấp.

Nếu bạn đang dùng chất bổ sung vitamin D và kết quả là ở mức cao hơn, bạn cũng có thể nhận thấy nguy cơ mắc một số bệnh ung thư giảm.

4. Có huyết áp khỏe mạnh

5 tác dụng đáng ngạc nhiên của việc bổ sung vitamin D sau 50 t.uổi - Hình 2

Kiểm tra huyết áp

SHUTTERSTOCK

Có mối liên quan giữa lượng vitamin D thấp và nhiều bệnh liên quan đến lão hóa, một trong số đó là tăng huyết áp.

Nguy cơ tăng huyết áp tăng lên đáng kể khi một người già đi.

Dữ liệu quan sát đã chỉ ra mối liên quan giữa mức vitamin D thấp và tỷ lệ tăng huyết áp cao cũng như nguy cơ tăng huyết áp.

Vì vậy, một tác dụng phụ đáng ngạc nhiên mà bạn có thể gặp phải nếu thường xuyên bổ sung vitamin D là huyết áp khỏe mạnh, mặc dù điều đó không có nghĩa là bạn không thể bỏ qua việc tuân theo một chế độ ăn uống lành mạnh tổng thể, theo Eat This, Not That!

5. Có thể có hệ thống miễn dịch khỏe mạnh

Khi một người già đi, hệ thống miễn dịch của họ dần dần suy giảm.

Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết thanh thấp và tăng nguy cơ phát triển một số bệnh và rối loạn liên quan đến miễn dịch (bao gồm Covid-19) đã được nhận thấy.

Cùng với việc rửa tay và thực hiện theo tất cả các khuyến nghị của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Mỹ, đảm bảo mức vitamin D trong tầm kiểm soát có thể giúp bạn tránh xa bệnh tật.

Những loại vitamin nào có thể giúp chống viêm?

Dưới đây là danh sách 6 loại vitamin có đặc tính chống viêm và các loại thực phẩm giàu vitamin tương ứng.

Các nghiên cứu chỉ ra một số loại vitamin có chứa hợp chất chống viêm. Những loại vitamin này có thể được tiêu thụ dưới dạng thuốc bổ sung và bằng cách ăn những thực phẩm tự nhiên có chứa vitamin.

Vitamin A

Theo nghiên cứu, vitamin A giúp giữ cho hệ thống miễn dịch không hoạt động quá mức và gây viêm. Vitamin A sẵn ở hai dạng: Beta-carotene – một loại provitamin được chuyển hóa thành vitamin A trong cơ thể và vitamin A – một chất chống oxy hóa bảo vệ cơ thể chống lại các gốc tự do. Chế độ ăn giàu beta-carotene và vitamin A có thể giúp giảm viêm.

Thực phẩm giàu vitamin A bao gồm cà rốt, bồ công anh, cải xoăn, rau cải rổ, rau cải bó xôi và nhiều loại rau lá xanh khác.

Vitamin B

Những loại vitamin nào có thể giúp chống viêm? - Hình 1

Những người có vitamin B6 thấp thường sẽ có mức độ protein phản ứng C cao – hợp chất gây ra chứng viêm, đặc biệt là đối với các bệnh tự miễn dịch như viêm khớp dạng thấp. Để giảm viêm và tăng vitamin B6, hãy thử tiêu thụ thực phẩm giàu vitamin B như cải xoăn, ớt chuông, nấm, dưa vàng, cá ngừ và thịt gia cầm.

Ngoài ra, bổ sung axit folic với liều lượng thấp (còn được gọi là folate, một loại vitamin B khác) hàng ngày và trong thời gian ngắn có thể làm giảm viêm. Các nguồn thực phẩm giàu folate bao gồm đậu mắt đen, rau lá xanh đậm, măng tây và gan.

Vitamin C

Vitamin C được biết đến với công dụng giữ cho hệ thống miễn dịch khỏe mạnh và hoạt động tốt. Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy vitamin C có thể loại bỏ các gốc tự do gây viêm và giúp giảm protein phản ứng C. Để bổ sung vitamin C vào chế độ ăn uống của bạn, hãy ăn nhiều loại trái cây và rau củ bởi chúng chứa nhiều chất chống oxy hóa cải thiện sức khỏe và giảm nguy cơ mắc bệnh tim và ung thư.

Vitamin D

Được biết, cải thiện vitamin D có thể giúp giảm viêm trong cơ thể. Vitamin D được cơ thể sản xuất tự nhiên sau khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, nhưng không phải ai cũng có thể nhận được tất cả vitamin D theo cách này. Bạn có thể bổ sung vitamin D bằng cách ăn cá, lòng đỏ trứng, thịt nội tạng và sữa.

Vitamin E

Vitamin E là một loại vitamin chống oxy hóa khác. Kết quả từ một phân tích tổng hợp năm 2015 trên Tạp chí Dinh dưỡng Lâm sàng Châu Âu xác nhận vitamin E có đặc tính chống viêm và việc bổ sung có thể hữu ích cho những người bị tình trạng viêm.

Vitamin E được tìm thấy tự nhiên trong các loại hạt, bao gồm cả hạt hạnh nhân và hạt hướng dương. Nhiều loại trái cây và rau củ cũng giàu vitamin E như quả bơ và rau cải bó xôi.

Vitamin K

Những loại vitamin nào có thể giúp chống viêm? - Hình 2

Theo một báo cáo trên Tạp chí Metabolism, vitamin K có thể làm giảm các triệu chứng viêm, giúp đông m.áu và bảo vệ sức khỏe của xương. Hầu hết mọi người không nhận đủ vitamin K từ chế độ ăn uống của mình. Nam giới trưởng thành nên bổ sung 120 mcg vitamin K mỗi ngày, trong khi phụ nữ nên tiêu thụ 90 mcg. T.rẻ e.m được khuyến nghị với liều lượng thấp hơn.

Có hai loại vitamin K: Vitamin K1 và K2. Vitamin K1 được tìm thấy trong các loại rau lá, bao gồm cải xoăn, cải bó xôi, bông cải xanh và bắp cải, trong khi vitamin K2 có trong thịt gà, gan và trứng.

Các loại vitamin chống viêm được lấy từ nhiều nguồn thực phẩm khác nhau, bao gồm rau, trái cây, thịt nạc và cá, cũng như các loại thực phẩm tăng cường vitamin. Ngay cả ở dạng thuốc bổ sung, các vitamin này có thể làm giảm viêm mà không có tác dụng phụ nghiêm trọng. Tuy nhiên, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi bắt đầu bổ sung bất kỳ loại vitamin nào.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *