Tăng tốc sản xuất thuốc trị COVID-19 của Việt Nam, giá bán dự kiến 300.000 đồng/hộp

Những ngày này, không khí làm việc tại xưởng sản xuất thuốc Molravir 400 của Công ty CP dược phẩm Boston Việt Nam đóng tại Khu công nghiệp VSIP 1 (Bình Dương) trở nên chộn rộn.

Tăng tốc sản xuất thuốc trị COVID-19 của Việt Nam, giá bán dự kiến 300.000 đồng/hộp - Hình 1

Những ngày này, không khí làm việc tại xưởng sản xuất thuốc Molravir 400 của Công ty CP dược phẩm Boston Việt Nam đóng tại Khu công nghiệp VSIP 1 (Bình Dương) trở nên chộn rộn – Ảnh: DUYÊN PHAN

Sản phẩm Molravir 400mg vừa được Bộ Y tế phê duyệt là tin vui đầu năm sau nhiều tháng nghiên cứu, thử nghiệm.

Công ty CP dược phẩm Boston Việt Nam là 1 trong 3 công ty dược tại Việt Nam vừa được Bộ Y tế cấp phép sản xuất, lưu hành thuốc điều trị COVID-19 chứa hoạt chất Molnupiravir.

Hai “ứng viên” còn lại là Công ty CP hóa – dược phẩm Mekophar (tên thuốc Movinavir 200mg) và Công ty TNHH liên doanh Stellapharm (tên thuốc Molnupiravir Stella 400mg) cũng đang hối hả cho ra lò những mẻ thuốc mang thương hiệu “made in Vietnam”.

Hàng chục ngàn nhà thuốc đã đặt hàng

Chia sẻ với T.uổi Trẻ, ông Lương Đăng Khoa – tổng giám đốc Công ty CP dược phẩm Boston Việt Nam – nói rằng nhu cầu sử dụng thuốc kháng virus của người dân đang khá lớn. Với sản lượng ước tính khoảng 30 triệu viên/tháng, đơn vị đang nóng lòng đợi ý kiến từ các cơ quan quản lý nhà nước về cơ cấu giá để tung thuốc kháng virus của công ty sản xuất ra thị trường phục vụ người dân.

Từ trước đó, để có được viên thuốc xuất xưởng, bắt đầu từ ngày 1-9-2021, các chuyên gia của công ty đã bắt tay vào nghiên cứu sản xuất. Tuy gặp không ít khó khăn về “đầu vào” là nguyên liệu mua đắt đỏ nhưng dần dà cũng được hóa giải. May mắn đã mỉm cười với công ty khi ngày 5-1-2022, viên thuốc Molravir 400 đầu tiên đã hoàn thiện.

Ngoài đảm bảo nhiệt độ thông thường, theo đại diện công ty, trước khi đưa ra thị trường đều được đ.ánh giá độ ổn định trong điều kiện khắc nghiệt và lão hóa cấp tốc nhằm đảm bảo chất lượng trong suốt quá trình lưu hành. Các dữ liệu về độ ổn định còn tiếp tục được theo dõi và cập nhật để xác định t.uổi thọ của thuốc.

Về giá cả, ông Khoa cho biết giá gốc công ty bán ra cho các nhà thuốc là 273.000 đồng/hộp (gồm cả thuế VAT), thấp hơn nhiều so với mức giá khuyến cáo của WHO cho các nước kém phát triển là 19,9 USD, tương đương 440.000 đồng. Và hiện đã có hơn 10.000 nhà thuốc trên toàn quốc có hợp đồng đặt mua chính thức thuốc kháng virus do công ty sản xuất để cung ứng tận tay cho người dân, với giá bán dự kiến khoảng 300.000 đồng/hộp.

Tăng tốc sản xuất thuốc trị COVID-19 của Việt Nam, giá bán dự kiến 300.000 đồng/hộp - Hình 2

Xưởng sản xuất thuốc Molravir 400 (hoạt chất Molnupiravir) của Công ty cổ phần dược phẩm Boston Việt Nam tại Khu công nghiệp VSIP 1 (Bình Dương) – Ảnh: DUYÊN PHAN

An toàn cao, dung nạp tốt, hiệu quả rõ rệt…

Trong khi đó, đại diện Công ty TNHH liên doanh Stellapharm cho biết thuốc kháng virus của đơn vị sản xuất đạt tiêu chuẩn EU GMP (thực hành sản xuất tốt được cấp bởi Cơ quan Quản lý dược phẩm châu Âu) và tuân thủ theo tiêu chuẩn đăng ký với Cục Quản lý dược (Bộ Y tế).

Sản phẩm cũng đã được cấp giấy phép tự nguyện của Tổ chức MPP (Medicines Patent Pool) “tổ chức bằng sáng chế thuốc”. Với một hệ thống quản lý chất lượng nghiêm ngặt, công ty này cam kết chất lượng thuốc khi xuất xưởng luôn ổn định.

Tại Việt Nam, Stellapharm cũng là một trong các đơn vị sớm tiến hành nghiên cứu – phát triển sản phẩm viên nang cứng Molnupiravir từ tháng 4-2021. Song song với thử nghiệm lâm sàng ở các nước Mỹ, Ấn Độ…, thuốc được thử nghiệm lâm sàng tại các cơ sở điều trị của Bệnh viện Thống Nhất, khoa y tế công cộng (Bệnh viện ĐH Y dược TP.HCM (nghiên cứu tại bệnh viện), đồng thời nghiên cứu cộng đồng với số lượng trên 80.000 bệnh nhân tại nhiều tỉnh, TP trên cả nước.

Theo công ty, qua các báo cáo thực tế được Bộ Y tế công bố cho thấy thuốc có tính an toàn cao, dung nạp tốt, hiệu quả rõ rệt; giúp giảm tải lượng virus, giảm lây lan, giảm chuyển nặng, rút ngắn thời gian điều trị với tỉ lệ bệnh nhân có xét nghiệm RT-PCR âm tính sau 5 ngày hoặc dương tính với giá trị CT 30 từ 72,1% đến 99,1%.

Đại diện Stellapharm cho hay hiện đang phối hợp với các nhà phân phối cơ hữu nhằm đảm bảo việc phân phối được thực hiện nhanh chóng, rộng rãi nhất trên cả nước với giá đến tay người bệnh đồng nhất là 250.000 đồng/hộp 20 viên (1 liều điều trị).

“Người bệnh uống mỗi lần 2 viên (ngày 4 viên), uống trong vòng 5 ngày. Nhằm đảm bảo quyền lợi của người bệnh, chúng tôi sẽ thống nhất với các đơn vị phân phối đảm bảo thuốc đến tay người bệnh trên cả nước với giá đồng nhất. Chúng tôi không đặt nặng vấn đề lợi nhuận trong việc tính giá thuốc này” – đại diện Stellapharm Việt Nam khẳng định.

Tăng tốc sản xuất thuốc trị COVID-19 của Việt Nam, giá bán dự kiến 300.000 đồng/hộp - Hình 3

Thuốc Molravir 400 (hoạt chất Molnupiravir) chuẩn bị xuất xưởng – Ảnh: DUYÊN PHAN

Sẽ có thêm thuốc Molnupiravir được xem xét cấp phép

Việc có 3 thuốc chứa hoạt chất Molnupiravir vừa được Cục Quản lý dược cấp giấy phép lưu hành trong thời hạn 3 năm đã giúp người mắc COVID-19 mức độ nhẹ và vừa có thêm cơ hội lựa chọn thuốc điều trị. Bởi trước đó do thuốc mới được sử dụng trong chương trình điều trị có kiểm soát, số lượng hạn chế nên nhiều người đã tìm mua thuốc ở thị trường chợ đen, có thời điểm lên đến 5 triệu đồng/hộp, gần đây giảm xuống trên 1 triệu đồng/hộp.

Trả lời T.uổi Trẻ về công suất sản xuất thuốc chứa hoạt chất Molnupiravir của 3 công ty vừa được cấp phép, một đại diện Cục Quản lý dược cho biết còn liên quan tới nguồn nguyên liệu, nhu cầu thị trường… Tuy nhiên 1 trong số 3 nhà sản xuất đã có sẵn nguyên liệu đủ sản xuất 1 triệu viên thuốc chứa hoạt chất Molnupiravir.

Về giá bán lẻ, vị đại diện Cục Quản lý dược cho biết đầu tuần các công ty sẽ kê khai về cơ cấu giá thành, cách tính giá tới Cục Quản lý dược. Đây là khâu quan trọng để thuốc có thể được tham gia đấu thầu vào cơ sở y tế.

“Nhưng thông tin chúng tôi nhận được từ công ty sản xuất thuốc thì được biết giá bán buôn dưới 300.000 đồng/hộp” – đại diện Cục Quản lý dược cho biết. 3 nhà sản xuất thuốc cũng đã ký hợp đồng để bán thuốc ra thị trường thông qua một hệ thống chuỗi nhà thuốc có mặt tại nhiều tỉnh thành.

Về việc vì sao Quốc hội, Chính phủ đã cho phép cơ chế đặc biệt để đăng ký các thuốc này từ cuối tháng 12-2021 mà đến nay thuốc mới được cấp phép, như vậy có quá muộn, một chuyên gia cho rằng phải đủ hồ sơ thì mới được cấp phép. Bên cạnh đó, Cục Quản lý dược cũng “xem xét cẩn thận” và phải có đủ ý kiến của cấp có thẩm quyền vì đây là thuốc mới.

Ngoài 3 công ty đã được cấp phép sản xuất Molnupiravir, còn 7 công ty đã nộp hồ sơ. Từ tháng 1-2022, Hội đồng tư vấn cấp giấy phép lưu hành thuốc và nguyên liệu làm thuốc của Bộ Y tế đã đề nghị các công ty này sớm hoàn thiện hồ sơ để tiếp tục được xem xét, cấp phép.

LAN ANH

Ai cũng hy vọng, hào hứng

Khẳng định người dân có thể yên tâm, bởi giá thuốc kháng virus mà công ty sản xuất phân phối “đảm bảo tốt nhất để phục vụ người dân”, bà Huỳnh Thị Lan – tổng giám đốc Công ty CP dược phẩm Mekophar – cho biết hiệu quả của thuốc Movinavir 200mg qua nghiên cứu và thử nghiệm khá tốt, với người mắc COVID-19 chỉ cần uống từ 3-5 ngày là âm tính, không trở nặng.

Bà Lan chỉ nói rằng bản thân “khá tiếc” khi thuốc kháng virus do các công ty trong nước sản xuất được phê duyệt, cấp phép lưu hành khá chậm, điều này kéo theo việc người dân phải mua thuốc “trôi nổi” trên thị trường với giá cả đắt đỏ.

Theo tìm hiểu của T.uổi Trẻ, hiện có nhiều hệ thống nhà thuốc lớn đã ký hợp đồng đặt mua thuốc kháng virus từ các công ty sản xuất của Việt Nam. Trong đó, một hệ thống với hơn 500 nhà thuốc trải khắp cả nước cũng đã chuẩn bị đặt mua nguồn thuốc để chủ động phân phối khi được cho phép.

“Mong muốn Bộ Y tế phê duyệt cho bán càng sớm càng tốt phục vụ nhu cầu sử dụng cho người dân” – một đại diện nhà thuốc ở TP.HCM nói.

Ít nhất 27 hãng dược đã ký thỏa thuận sản xuất thuốc Molnupiravir

Tăng tốc sản xuất thuốc trị COVID-19 của Việt Nam, giá bán dự kiến 300.000 đồng/hộp - Hình 4

Nhân viên y tế phát thuốc cho F0 điều trị tại nhà ở quận Bình Thạnh, TP.HCM (tháng 9-2021) – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Theo thống kê mới nhất (công bố ngày 27-1-2022) trên trang web của Tổ chức bằng sáng chế dược phẩm (MPP), đã có ít nhất 27 hãng dược ký thỏa thuận với MPP sản xuất các phiên bản thuốc điều trị COVID-19 Molnupiravir giá rẻ để cung cấp cho 105 quốc gia thu nhập thấp và trung bình.

Việc ký kết thỏa thuận đó có được từ thỏa thuận cấp phép và chia sẻ bản quyền tự nguyện của Hãng Merck & Co. (Mỹ) với MPP trong tháng 10-2021, nhằm thúc đẩy cơ hội tiếp cận thuốc Monupiravir giá phải chăng cho người bệnh COVID-19 toàn cầu, đặc biệt ở các nước nghèo. Thỏa thuận đã nói giữa Merck & Co. và MPP sẽ cho phép 27 hãng dược đã nói có được công thức thuốc Molnupiravir và giấy phép con sản xuất loại thuốc này.

Các công ty được cấp phép có thể sản xuất các thành phần nguyên liệu thô cho thuốc Molnupiravir và/hoặc tự sản xuất luôn loại thuốc này ở dạng thành phẩm. Trong số ít nhất 27 công ty tại các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Kenya, Pakistan, Nam Phi, Hàn Quốc… đã được cấp phép, có 9 công ty sẽ sản xuất thuốc thành phẩm, trong đó có các công ty của Việt Nam.

Để được cấp phép, các hãng dược phải chứng minh được có đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu của MPP về năng lực sản xuất, tuân thủ điều khoản thỏa thuận và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về thuốc đảm bảo chất lượng.

Mặc dù Merck & Co. đàm phán thỏa thuận với MPP về việc thiết lập các điều khoản cấp phép sản xuất thuốc Molnupiravir, song đơn xin cấp giấy phép con của các nhà sản xuất thuốc generic từ các nước sẽ chỉ do MPP xét duyệt và gửi đến Merck & Co..

Chừng nào đại dịch COVID-19 vẫn còn được Tổ chức Y tế thế giới xếp ở mục Tình trạng khẩn cấp y tế công cộng quốc tế như hiện tại, chừng đó các đơn vị liên quan tới bản quyền thuốc Molnupiravir đều sẽ không nhận t.iền bản quyền từ thuốc này. Các đơn vị liên quan đó gồm Hãng dược Merck & Co., ĐH Emory (nơi phát minh ra thuốc) và Hãng dược Ridgeback Biotherapeutics là đối tác phát triển thuốc của Merck & Co..

Cùng với Molnupiravir, MPP cũng đã đàm phán chia sẻ bản quyền một thuốc kháng virus khác và cũng điều trị COVID-19 là Nirmatrelvir. Cả hai loại đều đã được chứng minh giúp giảm nguy cơ nhập viện và t.ử v.ong ở bệnh nhân COVID-19.

Tái tạo bàng quang từ ruột non trị ung thư

Nam bệnh nhân 37 t.uổi đã mổ khối u bàng quang 5 năm trước, nay ung thư tái phát buộc phải cắt toàn bộ bàng quang ngăn di căn.

Ba tháng gần đây, anh thường xuyên đau tức bụng dưới, tiểu m.áu nhiều lần. Cơ sở y tế gần nhà chẩn đoán anh bị ung thư bàng quang tái phát, cần đến bệnh viện chuyên khoa để điều trị. Do dịch Covid-19 tại TP HCM bùng phát, việc điều trị bị gián đoạn, sức khỏe bệnh nhân ngày càng suy yếu.

Ngày 5/10, bác sĩ Nguyễn Vĩnh Bình, Trưởng khoa Ngoại tiết niệu, Bệnh viện Xuyên Á, cho biết tình trạng lúc nhập viện của bệnh nhân rất nguy kịch, biến chứng suy thận cấp, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, thiếu m.áu nặng do mất m.áu kéo dài.

Các bác sĩ điều trị những biến chứng, soi bàng quang, chụp cắt lát vi tính (MSCT) hệ niệu 160 lát cắt để đ.ánh giá giai đoạn của bệnh. Hướng điều trị tối ưu đưa ra cho bệnh nhân là phẫu thuật cắt bàng quang tận gốc nhằm ngăn chặn nguy cơ ung thư di căn; đồng thời tạo một bàng quang nhân tạo làm nơi chứa nước tiểu để đảm bảo hoạt động cơ thể bình thường sau này.

Sau một tuần điều trị biến chứng nhiễm khuẩn, lọc m.áu hai lần và truyền bù m.áu, bệnh nhân đủ điều kiện để tiến hành phẫu thuật. Các bác sĩ đã phẫu thuật nội soi cắt bỏ bàng quang, tuyến t.iền liệt, túi tinh, hai ống dẫn tinh, nạo vét toàn bộ hạch để loại bỏ hoàn toàn khối u. Cuối cùng, các bác sĩ lấy một đoạn ruột non khoảng 60 cm của bệnh nhân tạo hình thành túi chứa nước tiểu. Bàng quang tái tạo này được nối với niệu đạo, bệnh nhân vẫn có thể đi tiểu theo đường tự nhiên.

Theo bác sĩ Minh, trong suốt 8 giờ phẫu thuật, ê kíp gặp không ít bất lợi như bàng quang quá to gây khó khăn cho ca mổ nội soi. Trong khi đó, mạc treo ruột (phần gắn ruột vào thành bụng) ngắn khiến việc tạo hình khó khăn; các mạch m.áu lớn vùng chậu teo nhỏ do di chứng bại liệt của bệnh nhân khi còn nhỏ, nếu bất cẩn có thể cắt đứt nguồn mạch m.áu nuôi hai chi dưới.

Hiện, sau hai tuần hậu phẫu, bệnh nhân không còn mệt mỏi, tiểu m.áu hay phải chịu đựng những cơn đau rát, buốt h.ành h.ạ khi đi tiểu. Bệnh nhân ăn uống ngon miệng hơn, cơ thể hồi phục và dần thích nghi với bàng quang mới.

Tái tạo bàng quang từ ruột non trị ung thư - Hình 1

Bệnh nhân (ngồi) chụp ảnh cùng các bác sĩ điều trị trước khi xuất viện. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á

Đây là ca điển hình được tái tạo bàng quang từ ruột non, sau khi phải cắt bàng quang để điều trị ung thư tại Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á. Trước đây, với các ca tương tự, khi chưa có kỹ thuật tạo hình bàng quang thay thế bằng ruột, bác sĩ phải mở hai niệu quản ra da. Như vậy, bệnh nhân phải mang bên người hai túi dẫn lưu niệu quản chứa chất thải, ảnh hưởng sinh hoạt và có nguy cơ n.hiễm t.rùng.

Ung thư bàng quang là bệnh phổ biến thứ 7 trong các bệnh ung thư của nam giới và thứ 10 ở cả hai giới. Tại Việt Nam, theo thống kê của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) năm 2020, ung thư bàng quang đứng thứ 20 về số lượng bệnh nhân được phát hiện trong tất cả loại ung thư, bác sĩ Minh thông tin.

Triệu chứng thường gặp của ung thư bàng quang là đi tiểu ra m.áu. Người tiểu m.áu nên đi khám ngay, nhằm chẩn đoán sớm ung thư bàng quang và điều trị kịp thời.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *